Hoàng Hoa Thám hồi còn bé tên là Trương Văn Thám, quê làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sau đó di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi đến Yên Thế (Bắc Giang), bố là Trương Văn Thận và mẹ là Lương Thị Minh.

khangPhap02.jpg

Sinh thời, bố mẹ Hoàng Hoa Thám đều là những người rất trọng nghĩa khí; cả hai ông bà đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn (Nùng Văn Vân) ở Sơn Tây.

Dai gia dinh De tham.jpg

                                             Đại gia đình của cụ Hoàng Hoa Thám

Năm 16 tuổi, ông tham gia khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875). Khi Pháp chiếm Bắc Ninh (3-1884) Hoàng Hoa Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Quang Loan, lãnh binh Bắc Ninh, rồi nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh (1882-1888), và sau đó ông đứng dưới cờ nghĩa Lương Văn Nắm (tức Đề Nắm) và trở thành một tướng lĩnh có tài. Tháng 4-1892, Đề Nắm bị thủ hạ Đề Sặt sát hại và Hoàng Hoa Thám trở thành thủ lĩnh tối cao của phong trào Yên Thế.

Trong ba năm (1893-1895) giặc Pháp đã tập trung lực lượng để đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chúng không từ một thủ đoạn nào, từ phủ dụ đến bao vây tàn sát.

Năm 1885, ông đã có mặt trong đội quân khởi nghĩa chống Pháp cùng với Bá Phức, Thống Luận dưới quyền chỉ huy của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh), ông lấy tên là Đề Dương sau được Cai Kinh đổi tên thành Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám). Sau khi Cai Kinh chết, Đề Thám tách ra hoạt động riêng và trở thành thủ lĩnh của phong trào nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1890, nghĩa quân Đề Thám đã xây dựng một hệ thống công sự vững chắc ở thung lũng Hố Chuối. Tại căn cứ này, tháng 12/1890, Đề Thám cùng với trên dưới 100 nghĩa quân đã đánh bại ba cuộc tấn công của địch, đông tới hàng ngàn người, có đại bác yểm trợ và do những sĩ quan cao cấp chỉ huy. 

Nhung ban cách mang cua Ðe-Thám1.jpg

Cụ Hoàng Hoa Thám cùng các tướng lĩnh và nghĩa quân (trong ảnh: từ trái qua phải, hàng thứ 2, người đứng thứ 4 là cụ Thám).

Trận đánh ở Đồng Hom vào tháng 3-1892, Đề Thám đã diệt mấy chục tên địch. Tiếp đến, nhiều trận đánh khác đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Thất bại trong âm mưu tiêu diệt nhanh nghĩa quân, giặc Pháp hai lần giảng hòa với Đề Thám. Lần thứ nhất năm 1894, kẻ địch buộc phải để ông làm chủ 4 tổng: Hữu Thượng, Nhã Nam, Mục Sơn và Yên Lễ, tức là gần hết vùng Thượng Yên Thế. Lần thứ hai năm 1897, Pháp phải công nhận ông được phép khẩn hoang ở Phồn Xương, được giũ 25 tay súng bảo vệ đất đai của mình.

3.jpg

Một đoạn thành đồn Phồn Xương, xã Hữu Xương, huyện Yên Thế, Bắc Giang, di tích của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.

Đồn điền Phồn Xương thực chất là căn cứ chống Pháp. Hoàng Hoa Thám vừa tiếp tục ngấm ngầm huấn luyện quân ngũ, vừa cày cấy khai phá đất đai để tích trữ lương thực. Phồn Xương cũng là nơi thu hút các sĩ phu, thủ lĩnh các phong trào yêu nước. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến với Hoàng Hoa Thám để bàn bạc việc phối hợp tác chiến, viện trợ lẫn nhau giữa các phong trào. Hoàng Hoa Thám đã giúp đỡ Duy tân hộixây dựng đồn điền “Tú Nghệ” (do Phạm Văn Ngôn và Hoàng Xuân Hành phụ trách) để luyện tập quân sự. Hoàng Hoa Thám cũng mở rộng hoạt động về tận Hà Nội, liên hệ với đảng Nghĩa Hưng tiến hành vụ đầu độc lính Pháp ngày 27/6/1908…

4.jpg

Doanh trại của Pháp ở đồn Mỏ Trạng, huyện Yên Thế, Bắc Giang.

Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám), người được mệnh danh là "hùm xám" vùng Yên Thế đã làm cho bọn quan cai trị từ Thống sứ Bắc Kỳ đến những tên Công sứ mấy tỉnh thượng du Bắc Bộ phải "lo sợ đến bạc đầu".

khangPhap15.jpg

Khi cuộc khởi nghĩa Yên Thế bị coi là thất bại vào đầu năm 1913, nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong bài viết về Hoàng Hoa Thám đã có những câu cảm thán: “Than ôi! Tội ác của kẻ thù ngút trời, thế lực của kẻ thù gấp hàng trăm lần, thế mà ông Hoàng một mình đã chống chọi được với chúng gần ba chục năm trời. Ông đã tập hợp và rèn luyện những con người tầm thường thành một đội ngũ mạnh mẽ và ông đường đường là một vị tướng quân tiếng tăm lừng lẫy. Ông xứng đáng là một chân quốc nhân, xứng đáng là một chân tướng quân!”.

 

 

Hoàng Hoa Thám xứng đáng là anh hùng dân tộc ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. 

khangPhap20.jpg